Get Adobe Flash player

Hỗ trợ trực tuyến

Tư vấn 1: 0915.905.075


Tư vấn 2: 0967.57.33.44


Tư vấn 3: tuvanviethan@gmail.com

Kiến thức doanh nghiệp

Điều kiện, giới hạn, thủ tục với nhà đầu tư nước ngoài khi thành lập công ty tại Việt Nam – Luật Đầu tư 2014

Điều 22. Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 1. Nhà đầu tư được thành lập các...

Tài sản góp vốn vào Doanh nghiệp gồm những gì? Thực hiện thế nào ? định giá ? – Luật Doanh nghiệp 2014

Điều 35. Tài sản góp vốn 1. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt...

Ba yếu tố để xác định mục tiêu phù hợp cho DN

Một mục tiêu sai lầm có thể khiến cả đoàn tàu trật bánh, phải trả...

Các biện pháp bảo đảm quyền lợi cho Nhà đầu tư gồm những gì? – Luật đầu tư 2014

Điều 9. Bảo đảm quyền sở hữu tài sản 1. Tài sản hợp pháp của nhà đầu...

Những trường hợp nào được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất?

Theo quy định tại Điều 110 Luật đất đai năm 2013 thì việc miễn, giảm...

Tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được dựa trên những căn cứ nào?

Theo quy định tại Điều 108 Luật đất đai năm 2013 thì Tính tiền sử...

Thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư – Luật Đầu tư 2014

Điều 30. Thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội Trừ những dự án...

Ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện – Luật Đầu tư 2014

Điều 7. Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện 1. Ngành, nghề đầu tư kinh doanh...

Những điểm mới đáng chú ý của Luật đất đai sửa đổi năm 2013

Luật đất đai sửa đổi năm 2013 được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày...

Thống kê

    Online: (Xem)
    Hôm nay: 239
    Hôm qua: 152
    Trong tuần: 1,554
    Trong tháng: 7,453
    Tổng truy cập: 2,380,375
    Lượt xem trang: 2,705,743
    Your IP: 54.224.210.130

Điểm mới trong Luật Đầu Tư 2014

Luật Đầu tư 2014 đã được Quốc hội thông qua ngày 26-11-2014 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01-07-2015 thay thế cho Luật Đầu tư 2005.  Luật gồm 7 chương, 76 điều, quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài.

Luật Đầu tư sửa đổi 2014 được xem là sản phẩm của sự đổi mới toàn diện và đột phá về đầu tư, mở ra môi trường đầu tư thông thoáng và góp phần hoàn thiện  các thể chế cũng như hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam.

So với Luật Đầu tư 2005, Luật Đầu tư 2014 có tinh thần mở hơn, phạm vi điều chỉnh rõ ràng hơn, có nhiều điều chỉnh phù hợp với tình hình hiện tại nhằm tháo gỡ những vướng mắc  và cải thiện môi trường đầu tư, trong đó có nhiều điểm mới nổi bật.

ĐIỂM ĐỔI MỚI LUẬT ĐẦU TƯ 2014:

  1. Luật đầu tư chỉ quản lý dự án.

Luật đầu tư và luật doanh nghiệp 2005 đang xảy ra sự mâu thuẫn và chồng chéo lên nhau.  Theo điều 50 Luật Đầu tư “ Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh “.  Như vậy Luật Đầu tư chiếm quyền đăng kí kinh doanh của nhiều chủ thể có thẩm quyền, lấn sân sang Luật Doanh nghiệp. Khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng một cổ hai tròng, phải tuân thủ đồng thời cả hai luật.  Ví dụ, một doanh nghiệp đã có giấy chứng nhận đầu tư, vậy họ có quyền thay đổi đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh không? Đây là câu hỏi rất khó trả lời, bởi theo cách nhìn của Luật Doanh nghiệp, thì những doanh nghiệp trên chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Ngoài ra, Luật Đầu tư còn phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư trong nước phải đăng ký dự án đầu tư theo Luật Đầu tư và thành lập tổ chức kinh tế theo Luật Doanh nghiệp; trong khi đó  nhà đầu tư nước ngoài chỉ cần có giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Nhưng sau khi có được giấy chứng nhận đầu tư thì các doanh nghiệp không vì thế mà được cát bỏ hàng loạt các thủ tục có liên quan đến đầu tư như: giấy phép xây dựng, giấy phép của cơ quan quản lý đất đai…….

Chính những lý do trên, nên Luật Đầu tư 2014 đã tạch bạch giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ra khỏi giấy chứng nhận đầu tư, và theo đó giấy chứng nhận đầu tư chỉ ghi nhận thông tin về dự án đầu tư.

         2. Về lĩnh vực cấm đầu tư kinh doanh (Điều 6)

Số lượng ngành nghề cấm đã giảm từ 51 xuống chỉ còn 6 lĩnh vực:

  • Các chất ma túy.
  • Các loại hóa chất, khoáng vật.
  • Mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã.
  • Mại dâm.
  • Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người.
  • Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người.

Về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (Điều 7)

Thu hẹp từ 386 lĩnh vực trong các quy định pháp luật trước đây xuống còn 272 lĩnh vực và được tổng hợp,  liệt kê rõ ràng trong phụ lục 4.

Theo cách tiếp cận này, từ nay các cơ quan nhà nước không còn quyền tự đặt ra các nghề kinh doanh có điều kiện, trừ khi được Quốc hội chấp thuận bằng việc sửa đổi Luật Đầu tư(2). Chắc chắn việc sửa luật sẽ không dễ dàng như sửa một nghị định cấp Chính phủ hoặc một thông tư cấp bộ. Do vậy, nhà đầu tư có thể yên tâm rằng danh sách này sẽ không dài ra một cách nhanh chóng.

     3. Về giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

  • Các dự án của nhà đầu tư trong nước:

Theo LĐT 2005, dự án đầu tư trong nước có quy mô từ 15 tỉ đồng trở lên hoặc thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì phải xin giấy chứng nhận đầu tư, bất kể vốn đầu tư là vốn trong nước hay nước ngoài. Điều này gây nên sự cản trở cũng như bất cập đối với nhiều nhà đầu tư trong nước. Giờ đây, theo LĐT 2014, các dự án của nhà đầu tư trong nước sẽ không phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư  mà chỉ cần hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là đủ.

  • Thu hẹp phạm vi áp dụng giấy chứng nhận đầu tư đối với các doanh nghiệp FDI:
    Theo LĐT 2005, tất cả các dự án đầu tư có vốn nước ngoài (dù chỉ là 1% vốn điều lệ) cũng cần phải xin giấy chứng nhận đầu tư. Để khuyến khích đầu tư nước ngoài, LĐT 2014 chỉ còn yêu cầu nhà đầu tư xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án của nhà đầu tư nước ngoài (tức là người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam) và dự án của doanh nghiệp FDI mà trong đó nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% hoặc có nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp FDI nắm giữ từ 51% vốn điều lệ. Các dự án có vốn FDI còn lại thì sẽ được đối xử như dự án đầu tư trong nước.
  •  
  • Thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư:

Đã được rút ngắn hơn. Cụ thể là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư cho các dự án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư là; đối với các dự án khác là 15 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan cấp phép nhận đủ hồ sơ (trước đây là 45 ngày).

    4.   Về đối tượng ưu đãi đầu tư.

      • Bổ sung ngành, nghề ưu đãi đầu tư mới: sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao; sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng từ 30% trở lên; sản phẩm tiết kiêm năng lượng; Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô…
      • Quy định cụ thể các ngành, nghề ưu đãi như: thu gom, xử lý nước thải (trước đây là lĩnh vực bảo vệ môi trường sinh thái); giáo dục mầm non, phổ thông, nghề nghiệp (trước đây là Phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo).

HẠN CHẾ LUẬT ĐẦU TƯ 2014

  • Khái niệm nhà đầu tư chưa rõ ràng. Có thể phân biệt nhà đầu tư nước ngoài theo quốc tịch, hay tỷ lệ góp vốn. Tuy nhiên, Luật Đầu tư 2014 lại chọn phương án trung dung. Luật chia nhà đầu tư nước ngoài thành ba nhóm:
  1. Nhà đầu tư có quốc tịch nước ngoài;
  2. Doanh nghiệp Việt Nam có 51% vốn nước ngoài;
  3. Doanh nghiệp Việt Nam có dưới 51% vốn nước ngoài.

Nhóm (i) và (ii) bị áp dụng các điều kiện như nhà đầu tư nước ngoài (từ ngành nghề đầu tư đến thủ tục đầu tư…) còn nhóm (iii) được áp dụng các thủ tục và điều kiện như doanh nghiệp trong nước. Sẽ khó chấp nhận sự phân biệt ấy khi một doanh nghiệp có 51% vốn nước ngoài và một doanh nghiệp có 50,9% vốn nước ngoài lại áp dụng hai thủ tục đầu tư khác nhau. Bên cạnh đó việc tự do chuyển nhượng vốn, đặc biệt trên thị trường chứng khoán diễn ra rất nhanh chóng. Chính điều này dẫn đến việc xác định tỷ lệ vốn thì rất khó mà nó lại rất dễ và nhanh chóng bị thay đổi.

  • Các quy định về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong DN Việt Nam gặp nhiều vướng mắc do Luật không xác định rõ tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong doanh nghiệp và không quy định cụ thể về điều kiện, thủ tục thực hiện hoạt động này.
  • Ngoài ra, các thủ tục triển khai dự án đầu tư chưa được quy định đầy đủ, đặc biệt là các thủ tục liên quan đến điều chỉnh dự án đầu tư, tạm ngưng, giãn tiến độ hoạt động, chấm dứt dự án, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư, chuyển nhượng và thanh lý dự án đầu tư… Điều này không tạo cơ sở pháp lý để nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư, đồng thời, cơ quan nhà nước không đủ công cụ, chế tài cần thiết để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý hoạt động đầu tư.
  • Những qui định liên quan đến công khai minh bạch, cải cách hành chính và thuận lợi hoá đầu tư vẫn còn chung chung, thiếu cụ thể và tính khả thi chưa cao.
  • Quy định về quan hệ với các luật chuyên ngành, trách nhiệm của bộ máy quản lý đầu tư ở Trung ương và địa phương chưa đủ cơ sở pháp lý vững chắc để nhà đầu tư có thể tránh được những rào cản vô lý có thể được dựng lên… Có thể vẫn xảy ra cơ chế “xin- cho” , hối lộ…

Write comment Gửi nhận xét

noavatar.png
Tên bạn:
Email:      [x]
Hãy trở thành người đầu tiên gửi ý kiến nào!

Đối tác